Thế Giới Cận Đại

Napoleon Bonaparte

Bạn có thắc mắc về Napoleon Bonaparte, một cái tên rất thường được nhắc tới? Ông là ai? Và đã làm gì cho đời để lưu danh muôn thuở

Kim Lưu
tổng hợp và biên dịch từ World History
Napoleon Bonaparte la ai
0 views

Napoleon Bonaparte (1769-1821) là một vị tướng kiêm chính trị gia người Pháp gốc Corsica. Ông lên ngôi Hoàng đế của Pháp với danh hiệu Napoleon I từ năm 1804 đến 1814, rồi có một thời gian ngắn nắm quyền trở lại vào năm 1815. Napoleon đã xây dựng đế chế rộng lớn nhất Châu Âu kể từ thời Charlemagne, đồng thời mang lại những cải cách tự do cho các vùng đất ông chinh phục, dù cái giá phải trả là các cuộc Chiến tranh Napoleon đầy đau thương (1803-1815).

Sinh ra trong một gia đình quý tộc nhỏ ở Corsica, Napoleon nhanh chóng vươn lên trong quân đội Pháp thời kỳ Cách mạng Pháp (1792-1802) nhờ các chiến dịch quân sự tại Ý và Ai Cập. Ông nắm quyền kiểm soát Cộng hòa Pháp trong cuộc đảo chính ngày 18 Brumaire năm 1799 và tự trao vương miện Hoàng đế Pháp năm 1804. Napoleon cùng Grande Armée (Đại Quân) lừng danh của ông đã chiến đấu chống lại nhiều liên minh của các cường quốc châu Âu. Vào thời điểm Hiệp ước Tilsit vào tháng 7 năm 1807, quyền lực của Napoleon vươn đến hầu hết Tây và Trung Âu.

Tuy nhiên, sau thất bại thảm hại của Napoleon trong cuộc xâm lược Nga năm 1812, phần lớn châu Âu quay lưng lại với ông. Ông bị đánh bại và lưu đày đến đảo Elba ở Địa Trung Hải vào tháng 4 năm 1814. Không chịu khuất phục, Napoleon trở lại Pháp một cách ngoạn mục vào năm sau đó, mở đầu giai đoạn trị vì lần thứ hai được gọi là Triều đại Một trăm ngày. Ông sớm bị đánh bại lần nữa tại Trận Waterloo (18 tháng 6 năm 1815), sau đó bị đày đến đảo St. Helena xa xôi ở Nam Đại Tây Dương cho đến khi qua đời vào ngày 5 tháng 5 năm 1821.

Napoleon được nhớ đến nhiều nhất vì sự nghiệp quân sự lẫy lừng với tổng cộng 60 trận đánh và chỉ thất bại có bảy lần. Những cải tiến quân sự của ông đã thay đổi nền chiến tranh châu Âu. Ông áp dụng chế độ nghĩa vụ quân sự, phổ biến việc triển khai các quân đoàn cho quân đội quy mô lớn, và tiên phong trong một số chiến thuật tác chiến được nghiên cứu từ đó đến nay. Napoleon thường được xếp ngang hàng với Alexander Đại đế và Julius Caesar như một trong những vị tướng vĩ đại nhất lịch sử. Ông cũng thực hiện một bộ luật dân sự, được biết đến với tên gọi Bộ luật Napoleon, được thông qua trên khắp phần lớn lục địa châu Âu và ảnh hưởng đến hệ thống tư pháp của nhiều quốc gia hiện đại. Bị coi là cả nhà cải cách lẫn kẻ độc tài, vừa là người gây chiến lại vừa bảo vệ tự do – danh tiếng Napoleon đầy tranh cãi, nhưng ông vẫn là một trong những nhân vật nổi tiếng nhất trong lịch sử phương Tây.

Thời niên thiếu

Vị hoàng đế tương lai của Pháp chào đời với cái tên Napoleone di Buonaparte tại Ajaccio, Corsica vào ngày 15 tháng 8 năm 1769. Gia đình Buonaparte có nguồn gốc từ Ý trước khi di cư đến Corsica vào năm 1529, nơi họ vươn lên hàng quý tộc nhỏ. Cha của Napoleon, Carlo Buonaparte, là một luật sư có gia thế đủ để sở hữu Casa Bonaparte ba tầng ở Ajaccio, cũng như một ngôi nhà ở nông thôn, một vườn nho và một đàn cừu. Napoleon là con thứ hai còn sống của Carlo và Maria-Letizia Bonaparte; ông có một anh trai, Joseph, và các em là Lucien, Elisa, Louis, Pauline, Caroline và Jerôme.

BỊ TRỤC XUẤT KHỎI QUÊ NHÀ, NAPOLEON KHÔNG CÒN LÀ NGƯỜI DÂN TỘC CORSICA MÀ HƯỚNG LÒNG TRUNG THÀNH VỀ PHÁP

Trong nhiều thế kỷ, Corsica nằm dưới quyền kiểm soát của Cộng hòa Genoa nhưng được phép tự quản lý. Tuy nhiên, vào năm 1768, Genoa bán Corsica cho Vương quốc Pháp – nơi muốn can thiệp quản lý hòn đảo này trực tiếp hơn. Bước đi này vấp phải sự phản kháng. Lực lượng viễn chinh ban đầu của Pháp bị chặn lại bởi một nhóm chiến binh tự do Corsica do Pasquale Paoli đầy lôi cuốn lãnh đạo. Trong Trận chiến Ponte Novu quyết định vào tháng 5 năm 1769, Pháp đánh bại người Corsica. Paoli buộc phải lẩn trốn. Carlo Buonaparte ban đầu ủng hộ nền độc lập của Corsica, nhưng sau thất bại, ông thề trung thành với chủ nhân Pháp mới. Đổi lại, chính quyền Pháp mới trao tặng gia đình Buonaparte những tước hiệu và danh dự mới.

Vào tháng 2 năm 1784, Carlo Buonaparte, bố của Napoleon, qua đời. Hai năm sau, Napoleon tốt nghiệp trường quân sự danh giá École Militaire với cấp bậc trung úy pháo binh. Thế nhưng, phần lớn thời gian sau đó, anh chàng này lại nghỉ phép ở quê nhà Corsica. Khi Cách mạng Pháp nổ ra vào năm 1789, Napoleon và các anh chị em nhiệt tình ủng hộ phe Cách mạng – điều này mang lại cho anh chức trung tá trong lực lượng Vệ binh Quốc gia cách mạng vào tháng 4 năm 1792.

Việc gia đình Bonaparte đứng về phía chính phủ Pháp mới khiến họ đối đầu với Paoli, một người đấu tranh vì độc lập cho Corsica. Mâu thuẫn giữa phe của Bonapartes và những người ủng hộ Paoli ngày càng tăng, buộc gia đình Napoleon phải chạy trốn khỏi Corsica sang Pháp vào năm 1793. Bị lưu đày khỏi quê hương đã biến Napoleon từ một người theo chủ nghĩa dân tộc Corsica thành một người Pháp tận tâm hết mình vì nước Pháp.

Cuộc Cách Mạng

Mùa xuân năm 1792, Pháp cách mạng tuyên chiến với Áo và Phổ, châm ngòi cho cuộc Chiến tranh Cách mạng Pháp. Sau chiến thắng vang dội của Pháp tại Trận Valmy (20 tháng 9 năm 1792), nước Cộng hòa Pháp đầu tiên được thành lập và vua Louis XVI của Pháp bị xử tử vào ngày 21 tháng 1 năm 1793. Khi nước Cộng hòa Pháp ngày càng trở nên cực đoan và hiếu chiến, các quốc gia khác tham gia vào cuộc chiến chống Pháp, bao gồm Anh, Tây Ban Nha và Cộng hòa Hà Lan. Vào ngày 28 tháng 8 năm 1793, hạm đội của Anh và Tây Ban Nha chiếm cảng Toulon – một vị trí chiến lược vì đây là nơi đóng quân của toàn bộ Hạm đội Pháp Địa Trung Hải.

Trong khi đó, Napoleon cho xuất bản một cuốn sách nhỏ ủng hộ chính quyền Jacobin cực đoan với tựa đề “Bữa tối ở Beaucaire” (Le Souper de Beaucaire), nơi anh biện luận về sự cần thiết của các biện pháp quyết liệt do chính phủ cách mạng thực hiện. Ấn phẩm này gây ấn tượng với một số nhà lãnh đạo Jacobin quyền lực, sau đó dẫn đến việc Napoleon được bổ nhiệm làm chỉ huy pháo binh của quân Pháp tại Cuộc vây hãm Toulon. Napoleon thể hiện kỹ năng lãnh đạo tài tình trong cuộc bao vây, và các khẩu pháo của anh là yếu tố quyết định dẫn đến chiến thắng của người Pháp vào ngày 19 tháng 12 năm 1793. Dù bị thương trong trận chiến, Napoleon được thăng chức chuẩn tướng ở tuổi 24.

Tháng năm sóng gió

Tháng 7 năm 1794, thời kỳ Khủng bố Jacobin kết thúc, kéo theo sự sụp đổ của phe Jacobin. Napoleon bị bắt giam trong một thời gian ngắn rồi được thả tự do. Ngỡ tưởng sự nghiệp ngắn ngủi của Napoleon đã kết thúc, nhưng bước ngoặt đến vào ngày 4 tháng 10 năm 1795 khi chính phủ Cộng hòa phải vật lộn để bảo vệ Paris khỏi một cuộc nổi dậy của phe bảo hoàng. Là một trong số ít sĩ quan có năng lực tại thủ đô, Napoleon được giao trọng trách phòng thủ, và anh đã hoàn thành nhiệm vụ này một cách tàn nhẫn nhưng hiệu quả. Sau khi trưng dụng một số khẩu pháo, quân đội của Napoleon bắn đạn chùm vào đám đông, dập tắt cuộc nổi dậy tháng Vendemiaire (13 Vendémiaire).

Chiến thắng này đưa Napoleon đến với Paul Barras, một trong những nhà lãnh đạo của chính phủ mới được gọi là Chính phủ Đốc chính (French Directory). Năm 1795, Barras giới thiệu chàng tướng trẻ với Joséphine de Beauharnais, một góa phụ 32 tuổi mà Napoleon nhanh chóng đem lòng yêu. Tiếp đó, Barras bảo đảm cho Napoleon vị trí chỉ huy Quân đội Pháp tại Ý. Ngày 9 tháng 3 năm 1796, Napoleon kết hôn với Joséphine trong một buổi lễ dân sự trước khi lên đường sang Ý hai ngày sau đó. Cũng chính từ lúc này, anh bắt đầu viết tên mình theo cách viết tiếng Pháp: “Napoleon Bonaparte”.

Ý và Ai Cập

Thời Napoleon mới chân ướt chân ráo đặt chân lên nước Ý, các sĩ quan của ông chả coi ổng ra gì. Một gã nhỏ thó, gầy nhom, mới 26 tuổi, chả tí kinh nghiệm trận mạc nào, làm sao mà lãnh đạo cả một đội quân được? Thế nhưng, cái nhìn khinh thường đó nhanh chóng bay biến. Sau khi quất đám quân Ý vô kỷ luật tan tác, kiếm thêm cả đống tiếp tế, Napoleon bắt đầu đánh chiếm vương quốc Piedmont-Sardinia nhanh như chớp, hất cẳng họ ra khỏi cuộc chơi chưa đầy một tháng. Ổng tiếp tục tung hoành quân đội, đánh tan tác quân Áo, chiếm Milan, thiết lập các chư hầu của Pháp ở miền bắc nước Ý. Tiếp đó, ổng vây thành Mantua của Áo, thắng thêm mấy trận bự chảng ở Castiglione (5/8/1796), Arcole (15-17/11), và Rivoli (14-15/1/1797). Đến khi Mantua thất thủ vào tháng 2/1797, quân của Napoleon như hổ mọc thêm cánh đe dọa cả Viên; quân Áo phải xin đầu hàng và ký Hiệp ước Campo Formio vào tháng 10, chấm dứt Chiến tranh Liên minh thứ nhất.

Chiến dịch Ý vang dội mang lại cho Napoleon sự yêu mến của binh lính, họ trìu mến gọi ông là “Hạ sĩ bé nhỏ”. Sự kiện này cũng đưa ổng thành siêu sao chính trị ở Pháp; những câu chuyện hào hùng như lúc ổng xông pha trên cầu Arcole trở nên nổi tiếng và tạo nên huyền thoại Napoleon. Năm 1798, Napoleon được phép dẫn quân đến Ai Cập để đe dọa sự thống trị khu vực này của người Anh. Sau khi đánh bại quân Mamluk ở Trận chiến Kim tự tháp (21/7) và chiếm Cairo, Napoleon tiến vào Syria nhưng bị liên quân Anh-Ottoman chặn lại ở Cuộc vây hãm Acre (20/3-21/5/1799). Ông buộc phải rút lui về Alexandria và lỉnh khỏi Ai Cập vào tháng 8/1799. Mặc dù chiến dịch của Napoleon ở Ai Cập và Syria thất bại về mặt quân sự, nó thúc đẩy đáng kể lĩnh vực nghiên cứu Ai Cập học với việc phát hiện ra Phiến đá Rosetta.

Vào tháng 10/1799, Napoleon đáp xuống Pháp và ngay lập tức, mấy ông quan Pháp bất mãn như Emmanuel-Joseph Sieyès tiếp cận, muốn biến ổng thành “thanh gươm” của một cuộc đảo chính. Napoleon đồng ý và các ngày 9-10/11/1799, lật đổ chính phủ trong cuộc đảo chính 18 Brumaire không đổ máu. Sau đó, ổng khéo léo lừa Sieyès để trở thành nhân vật thống trị chính phủ mới, được gọi là Chính phủ Tổng tài Pháp. Sự thăng tiến của ông đánh dấu sự kết thúc của Cách mạng Pháp và mở ra kỷ nguyên Napoleon.

Chế Độ Tổng Tài của Napoleon và Những Thành Tựu Vĩnh Cửu

Napoleon Crossing the Alps, Belvedere Version, JacquesLouis DavidChế Độ Tổng Tài (1799- 1804) kéo dài bốn năm, và trong thời gian này, Napoleon gặt hái được nhiều thành tựu chính trị trường tồn nhất. Ông thương lượng Hòa ước 1801 với Giáo Hội Công Giáo, mở ra cánh cửa hòa giải giữa Pháp và Tòa Thánh. Đồng thời, ông cũng thiết lập Bộ luật Napoleon, phản ánh một số cải cách tự do đến từ Cách mạng Pháp. Dù ông tiến hành chiến dịch xâm chiếm để tái chiếm Haiti và thiết lập lại chế độ nô lệ ở đây, lực lượng xâm lược thất bại, dẫn đến nền độc lập của Haiti vào năm 1804. Bên cạnh đó, với tư cách là Đệ Nhất Tổng Tài, Napoleon tiến hành Thương Vụ Louisiana, giúp nước Mỹ tăng gấp đôi về lãnh thổ. Về phương diện quân sự, ông vượt dãy Alps và đánh bại Đế Quốc Áo tại Trận Marengo (14/6/1800). Chỉ hai năm sau, Hiệp ước Amiens được ký kết, chính thức chấm dứt các cuộc Chiến tranh Cách mạng. Bằng một cuộc trưng cầu dân ý, Napoleon được bầu chọn làm Đệ Nhất Tổng Tài suốt đời.

Biết rõ rằng chế độ non trẻ sẽ không vững chắc trừ khi ông xây dựng một đế chế cha truyền con nối, Napoleon xưng hiệu Hoàng Đế nước Pháp vào ngày 18/5/1804. Lễ Đăng Quang của Napoleon I diễn ra tại Nhà thờ Đức Bà Paris vào ngày 02/12 cùng năm, với khoảnh khắc vị Hoàng Đế tự tay đội vương miện lên đầu mình. Vào thời điểm này, các cuộc Chiến tranh Napoleon bắt đầu bùng nổ khi Anh tuyên chiến với Pháp vào tháng 05/1803. Tuy nhiên, sau khi Napoleon đăng quang Hoàng Đế Pháp tại Pháp và Vua xứ Ý vào tháng 03/1805, Anh thành lập Liên minh thứ ba cùng với Áo, Nga và Vương quốc Naples (1805 – 1806), quyết chiến chống lại Pháp. Napoleon lập tức hành quân vào Đức, dẫn đầu Grande Armée (Đại Quân Đoàn Pháp) được chia thành tám quân đoàn độc lập nhằm gia tăng tốc độ và tính linh hoạt.

Hệ thống quân đoàn này tỏ ra vô cùng hiệu quả, góp phần vào chiến thắng lớn của Napoleon trước quân Áo trong Chiến dịch Ulm. Ông chiếm được Vienna vào ngày 13/11 và kết thúc năm 1805 với chiến thắng quyết định trước liên quân Áo – Nga trong Trận Austerlitz (02/12), được đánh giá là một trong những thắng lợi vĩ đại nhất của ông. Sau khi Áo đầu hàng, Napoleon tổ chức lại nhiều bang của Đức thành Liên Bang Rhine – liên minh chư hầu dưới sự bảo trợ trực tiếp của Pháp, gián tiếp dẫn đến sự sụp đổ của Đế quốc La Mã Thần thánh vào tháng 7/1806. Napoleon cũng phế truất vua Bourbon xứ Naples và lập anh trai Joseph lên trị vì. Tương tự, Louis Bonaparte trở thành Vua Hà Lan vào năm 1806 và Jerôme nhận vương vị Westphalia vào năm 1807. Những nỗ lực xây dựng vương triều này của Napoleon vấp phải nhiều chỉ trích: người ta cho rằng ông trao quá nhiều quyền lực cho những người anh em kém tài.

Tháng 10/1806, Phổ gia nhập Nga và Anh thành lập Liên minh thứ tư (1806 – 1807). Napoleon đánh tan tác quân đội Phổ trong Trận Jena-Auerstedt (14/10) và tiến vào Berlin chỉ vài ngày sau đó. Ông tiếp tục hành quân đến khu vực Ba Lan do Phổ kiểm soát, và lập ra Đại Công quốc Warsaw – một quốc gia phụ thuộc. Dù chạm trán với quân Nga trong Trận Eylau đẫm máu (7-8/2/1807), Napoleon vẫn giành chiến thắng quyết định tại Trận Friedland (14/6). Sau trận chiến, ông gặp gỡ Sa hoàng Alexander I (trị vì 1801 – 1825) trên bè gỗ giữa sông Niemen để đàm phán hòa bình. Các Hiệp ước Tilsit ra đời, đánh dấu liên minh Pháp – Nga và việc Alexander đồng ý tham gia lệnh cấm vận quy mô lớn đối với Anh, hay Hệ thống Phong Tỏa Lục Địa của Napoleon. Hiệp ước cũng khiến Phổ mất đi phân nửa lãnh thổ. Đây có thể được xem là thời kỳ đỉnh cao sức mạnh của Napoleon với ảnh hưởng trải dài khắp Tây và Trung Âu.

Tây Ban Nha và Nga

Năm 1807, Napoleon phát động chiến dịch xâm lược Bồ Đào Nha khi nước này không tuân thủ Hệ thống Lục địa mà ông xây dựng. Lisbon nhanh chóng thất thủ, nhưng Napoleon không dừng lại – ông giở trò lợi dụng mâu thuẫn triều đình Tây Ban Nha, đem quân tấn công luôn, rồi đưa anh trai Joseph lên làm Vua Tây Ban Nha vào năm 1808. Ngay lập tức, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha vùng lên chống lại sự chiếm đóng của quân Pháp, mở màn Chiến tranh Bán đảo (1807-1814). Được Anh viện trợ, quân Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha kháng cự mãnh liệt, bao gồm cả chiến thuật du kích tàn bạo. 200,000 quân Pháp phải chôn chân tại đây, làm suy yếu đáng kể nguồn lực quân sự của Đế chế Pháp.

Chân dung Napoleon I trên ngai vàng (Tác giả: Jean-Auguste-Dominique Ingres)
Chân dung Napoleon I trên ngai vàng (Tác giả: Jean-Auguste-Dominique Ingres)

Trong lúc đó, các quốc gia châu Âu nhìn thấy quân nổi loạn Bán đảo thành công nên cũng mạnh dạn hơn. Đế quốc Áo tuyên chiến trong Chiến dịch Liên minh thứ Năm vào tháng 4 năm 1809. Chính trong trận này, tại bờ sông Danube, Napoleon lãnh thất bại đầu tiên khi còn là hoàng đế, trong Trận Aspern-Essling (21-22/05). Dù sau đó Pháp tập hợp lại và đánh bại Áo trong Trận Wagram (5-6/07), trận Aspern-Essling đã cho thấy rằng Napoleon cũng có thể bị khuất phục. Trong giai đoạn này, Napoleon cũng ly dị vợ là Joséphine vào tháng 1/1810 vì bà không sinh được người kế vị. Tháng 4 cùng năm, ông cưới Công chúa Marie Louise của Áo. Đến ngày 20/03/1811, Marie Louise sinh ra bé trai đặt tên là Napoleon II, có tước hiệu Vua của Rome.

Đến năm 1811, Pháp và Nga lâm vào thế đối đầu. Nga thấy Công quốc Warsaw do Pháp kiểm soát là mối đe dọa, trong khi Napoleon thấy Nga phản bội khi tự ý rời khỏi Hệ thống Lục địa. Ngày 24/06/1812, Napoleon xua quân vượt sông Niemen, đánh dấu cuộc xâm lược Nga quy mô khủng khiếp nhất trong lịch sử châu Âu cho tới thời điểm đó, với hơn 615,000 quân tham chiến. Nhưng Nga không chịu đánh giáp lá cà mà liên tục rút lui, vừa dụ quân Pháp tiến sâu hơn vừa thi hành kế hoạch tiêu thổ kháng chiến. Chiến thuật này rất hiệu quả, Pháp mất 100,000 quân trước cả khi giao tranh lớn đầu tiên diễn ra. Ngày 7/9 hai bên mới đánh trận Borodino đẫm máu, rồi Napoleon chiếm được Moscow một tuần sau đó. Thế nhưng thành phố hoang vắng, nhanh chóng chìm trong biển lửa, hoàn toàn vô dụng.

Sụp đổ

Khi nhận ra nước Nga sẽ không chịu đàm phán hòa bình, Napoleon ra lệnh rút quân vào tháng 10. Tuy nhiên, mùa đông khắc nghiệt ập đến và sự truy đuổi không ngừng của quân đội Nga tàn phá nặng nề Grande Armée của Napoleon. Đến khi quân Pháp vượt sông Niemen trở lại vào tháng 12 năm 1812, họ mất nửa triệu binh lính. Các cường quốc châu Âu nhảy vào cơ hội này để đánh bại Napoleon một lần và mãi mãi. Trong Chiến tranh Liên minh thứ sáu (1813-1814), Nga liên kết với Anh, Phổ, Áo và Thụy Điển.

Sau thất bại nặng nề khác của Napoleon tại Trận Leipzig (16-19 tháng 10 năm 1813), nhiều đồng minh người Đức của ông đào ngũ và Liên minh Rhine tan rã. Liên minh sau đó xâm lược Pháp, khiến Napoleon không còn lựa chọn nào khác ngoài việc thoái vị vào ngày 11 tháng 4 năm 1814. Ông bị đày đến đảo Elba trên Địa Trung Hải, và Vua Louis XVIII của Pháp lên ngôi.

Vào ngày 1 tháng 3 năm 1815, Napoleon lợi dụng tình hình chính trị bất ổn do chế độ Bourbon Phục hồi gây ra và đổ bộ lên bờ biển miền nam nước Pháp với 1.000 binh lính. Vào ngày 20 tháng 3, ông tiến vào Paris trong chiến thắng, bắt đầu giai đoạn trị vì thứ hai được gọi là Trăm Ngày. Kẻ thù của ông không mất thời gian tuyên bố ông là kẻ ngoài vòng pháp luật và tập hợp các đội quân mới. Đến cuối tháng 5, Liên minh thứ bảy cử hai đạo quân tới Bỉ để đe dọa vùng đông bắc nước Pháp, bao gồm một đội quân Anh-Hà Lan-Đức do Arthur Wellesley, Công tước xứ Wellington chỉ huy, và một đội quân Phổ do Gebhard Leberecht von Blücher chỉ huy.

Vào ngày 15 tháng 6 năm 1815, Napoleon tiến vào Bỉ để đối đầu với mối đe dọa mới này nhưng bị đánh bại hoàn toàn tại Trận chiến Waterloo (18 tháng 6 năm 1815). Ông thoái vị lần nữa bốn ngày sau đó và bị đày đến hòn đảo St. Helena xa xôi ở Nam Đại Tây Dương. Tại đây, ông bị những người Anh bắt giữ theo dõi chặt chẽ. Sức khỏe của ông ngày càng giảm sút cho đến khi ông qua đời vào ngày 5 tháng 5 năm 1821, ở tuổi 51.

Rate this post
Kim Lưu
Chào mọi người, mình là Kim Lưu, người lập Blog Lịch Sử này. Hy vọng blog cung cấp cho các bạn nhiều kiến thức hữu ích và thú vị.

BÀI LIÊN QUAN