I — TÌNH TRẠNG VIỆT-NAM ĐẦU THẾ-KỶ XVI.
Đầu thế-kỷ XV, vua Thái-tổ nhà Hậu Lê, với sự hậu-thuẫn mạnh-mẽ và kiên-quyết của toàn dân, đã lập nên một sự-nghiệp bất-hủ trong sử xanh là đánh đuổi được quân xâm-lược của triều Minh ra khỏi bờ cõi, sau 10 năm chiến-đấu đầy hy-sinh gian-khổ.
Từ Thái-tổ đến Thánh-tông, hùng-khí của dân-tộc Việt-Nam mạnh như sóng cồn, nếu đem so sánh Việt-Nam với các lân-quốc Á-châu thì ta có thể tự hào rằng mình là một quốc-gia cường-thịnh bậc nhất ở Đông-Nam Á về mọi phương-diện.
Văn-trị, võ công rạng rỡ đến tột bực, cả vấn-đề cương-vực cũng được mở rộng hơn bao giờ hết, nếu ta nhớ rằng dưới đời Hậu Lê biên-giới Việt-Nam đã đi sâu vào đất Chàm. Vua Thánh-tông đã xua đuổi Chiêm-quân đến Phan-Lung rồi chia Chiêm-quốc ra làm ba tiểu quốc, một gọi là Chiêm thành, một gọi là Nam-phan và một gọi là Hóa-Anh — Còn đất Chà-bàn, đất Đại-chiêm và Cổ-lũy được quy-hợp mà tạo thành ra đạo Quảng-Nam.
Trong giai-đoạn lịch-sử này, nếu ngó về cục-diện Âu-châu ta thấy nước Pháp vừa mới phục-hồi được ít lâu sau cuộc Bách-niên chiến-tranh (Guerre de cent ans) và nước Anh còn đang đau khổ trong các cuộc khói lửa vô cùng tàn hại (Guerre des deux roses) trên khắp mọi nơi của đảo-quốc. Đây là nhận xét của giáo sư Jean Chesneaux, tác giả cuốn « Contribution à l’histoire de la Nation Vietnamienne » (1) kể ra để khen ngợi với đời Hồng-Đức nước Việt Nam đã văn-minh thịnh-trị so ngay cả với nhiều nước lớn ngày nay ở Âu-châu vào thời ấy.
Đáng tiếc đến hết đời vua Thánh-tông thì cái đã tiến-hóa của dân-tộc bị ngưng lại. Lý-do của sự ngưng tiến là bởi các vua kế vị Thái-tổ, Thánh-tông, Hiến-tông đều nhỏ tuổi cả và như thế kém cả tài lẫn đức nên không những không thúc đẩy thêm được cái đã tiến hóa của dân tộc mà còn đi đến chỗ dật lùi rồi dần sa vào hố suy-vong.
Tại đây ta nhận thấy vai trò lãnh-tụ thời quân-chủ quả là hết sức quan trọng. Từ quan đến dân hầu chỉ ý-thị vào vị quốc chủ, một khi không có minh-quân thường không có lương-tế, do đó mà chính-sự rơi dần đến chỗ suy bại. Cái khuyết-điểm của chế-độ quân-chủ là không xây dựng được những nền tảng chắc chắn và vĩnh-cửu cho sự tiến-hóa của toàn dân, bởi vậy mỗi khi những ông vua non kém ra đời, nhiều biến cố thường xảy ngay tại triều-đình, các biến cố này dĩ nhiên ảnh-hưởng lớn tới toàn thể dân-chúng. Nói cách khác, nền quân-chủ là một cái nhà có một cái móng bằng sát bằng đá, các cột kèo bằng lim, sên, tấu, cửa to cửa nhỏ đều mở rộng, những người sống bên trong được mọi sự che chở thì cái nhà ấy sẽ bền vững mãi mãi, các gia chủ cũng sẽ không bao giờ nghĩ đến sự phá-hủy hoặc sửa-chữa các bộ phận hay toàn thể cái nhà đó. Ngược lại nếu nó không có nền móng chắc chắn, nó bồng-bềnh như xây trên bãi cát hay sình lầy thì dù người ở cái nhà đó không nỡ hủy bỏ, mưa gió cũng hất nhào nó xuống.
Xét lịch-sử Việt-Nam cũng như lịch-sử của nhiều dân-tộc Á-Đông, việc xây dựng chính-quyền không được cấu-tạo trên những nguyên-tắc hợp lý, hợp pháp, sáng suốt, do đó mỗi triều đại một chánh-sách, một chế-độ. Xã-hội được các vị lãnh-đạo tài giỏi, yêu nước thương dân thì chúng nhân được cơm no, áo ấm. Trái lại xã-hội sẽ rối loạn từ ngay nơi các vua quan rồi sự rối loạn bùng lớn ra tới ngoài nhân dân, nếu không xảy ra nội-tranh thì cũng có ngoại biến. Ở nhiều cường quốc Âu-châu ngày nay tỉ-dụ như Anh-quốc, Hòa-lan, Thụy-điển, Na-uy và tại Á-châu là Nhật-Bản dân tuy vẫn mến Hoàng-gia, nước tuy gọi là quân-chủ nhưng thế-chế là thế-chế lập hiến, roi tuy đôi khi Hoàng trọn vì thực-quyền vẫn ở tay nhân dân. Tóm lại với chế-độ quân-chủ độc-tôn, phong-kiến tuyệt đối xưa kia, nhiều quốc-gia sống rất bất trắc, bấp bênh, thất thường.
Với quốc-gia Việt-Nam, vua Lê Thánh-tông trị vì 38 năm làm được bao nhiêu điều ơn-ích cho quốc dân, nếu các vua kế-vị cũng ngang tài ngang đức, đâu đến nỗi có sự tan rã, suy-bỉ sau này, khiến cho trăm họ phải ly-loạn lầm than, đói khổ.
Con cháu nhà Hậu Lê từ vua Trưng-Dực tới Chiêu-tông và Cung-Hoàng đã tỏ ra bất lực, vô tài do đó các đại-thần, tướng lãnh tha-hồ mà tranh giành quyền vị. Từ giai-đoạn này trở đi mới loạn bất đầu. Tính ra, từ vua Thái-tổ đến Cung-Hoàng là lúc khởi sự cường thịnh đến lúc khởi sự suy vong vừa đúng một thế-kỷ. (1428–1527) sau 10 ông vua lớn nhỏ.
Theo tác giả « Xã-hội Việt-Nam », khi nhà Hậu Lê mới đầy nghiệp, các lãnh-tụ phong-kiến đem vua là quan-liêu vào địa-chủ. Bấy giờ họ còn non nớt và còn biết e-dè uy-quyền của nhà vua xây dựng trên những nguyên-tắc thương dân thương nước, họ chưa dám tác-yêu, tác-quái. Các quyền lợi của họ một phần đã do ơn sủng vì công lao chiến đấu với vua Thái-tổ trước đây mà có, sau này lại do sự bóc lột dân dần mà lớn lên mỗi ngày. Buổi đầu cái thế lực của họ đã do những cán nguyên-chính đáng rồi sau đó chỗ lạm-quyền, lạm-thế. Tới khi uy-quyền của nhà vua sút thì thế uy quyền của họ lại lớn lên. Ngoài ra giữa các quan liêu, địa chủ, họ càng đồng thì, mầm chia rẽ càng nhiều rồi một cơ hội đã thuận-tiện cho mầm chia rẽ đó là nước Đại-Việt từ thế-kỷ XV đã thành một quốc-gia rộng lớn nhưng nền kinh-tế phát triển không kịp, lãnh thổ chia xé quá nhiều vào các quan-liêu, địa chủ. Sau này triều-đình yếu-hèn quá không kiểm-soát nổi họ. Rồi quan-liêu mạnh bao nhiêu, sự bóc lột và áp chế nhân dân nhiều bấy nhiêu. Dân có đau khổ mà kêu thì « thiên cao, hoàng-đế viễn ». Trong cái tình-trạng bế-tắc ấy, chính người dân cũng muốn phiến động để tìm ra lối thoát.
Thế là giữa các phản-từ của chính-quyền đã có sự cạnh tranh chia rẽ — mà chính-quyền vì không giải-quyết nổi quyền-lợi của nhân-dân nên đối với nhân-dân cũng thành giáo mộc, thù-nghịch, xã-hội Việt-Nam ung-nhọt như vậy sớm chày phải tan rã và đi vào một trật-tự mới, đó là lý đương-nhiên. (1) Và nhân-dân chúng tôi nói đây là tất cả mọi người đã chung sống trên mảnh đất Việt-Nam, từ kẻ sĩ-phụ đến người áo ngắn cũng là nạn-nhân của cái không khí chính-trị nghẹt thở đời bấy giờ.
Cái không-khí nghẹt thở đó đã phát sinh từ đời vua Uy-Mục đến Chiêu-tông, luôn 20 năm mở mối sinh ra cuộc biến-loạn trên toàn bộ Việt-Nam kéo lê dài và mượn.
Dưới đây chúng tôi sẽ giới thiệu ba nhân-vật đã tranh hùng, tranh bá, đã chịu trách-nhiệm làm tan rã nền thống-nhất của nước nhà và đã gây nên bao nhiêu cảnh núi xương, sông máu từ Cao-Bằng tới bờ sông Nhật-Lệ: Mạc Đăng-Dung, Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng.
II. — MẠC ĐĂNG-DUNG TRÊN LỊCH-SỬ
Với những trang cuối cùng Việt-Sử Tân-Biên quyển II, trong chương nói về vua Lê Chiêu-Tông và Lê Cung-Hoàng, chúng tôi đã trình bày những cuộc rối loạn của hai triều vua này đã thành nguyên-nhân thúc đẩy họ Mạc ra đời cũng như các anh-hùng khác, ai nấy đều tự cho mình có đủ lý-do chánh đáng để ra khôi-phục tình-thế.
Chúng ta hãy bắt đầu với Mạc Đăng-Dung.
Mạc đăng-Dung thuộc dòng dõi Trạng-nguyên Mạc đình-Chi và là cháu 7 đời của ông — quê ở Đông-Cao, một làng thuộc huyện Bình-Hòa, tỉnh Hải-Dương. Huyết-thống của ông như vậy đáng kể là cao quý. Sau cha mẹ ông dời sang làng Cổ-Trai (thuộc huyện Nghi-Dương, tỉnh Kiến-An bây giờ). Đến thế-hệ của ông thì đã sa-sút nhiều nên gia-đình ông phải sinh sống bằng nghề đánh cá nhưng nhờ có sở-trường vũ-nghệ, họ Mạc thi đậu Đô-lực-sĩ dưới đời vua Uy-Mục rồi trên hoạn lộ, ông tiến bước dần đến tước Vũ-Xuyên-bá. Ông thăng Vũ-Xuyên hầu dưới đời vua Chiêu-tông và được giao giữ trọn binh-quyền của nhà nước trong tay thuở ấy, sau khi Hoàng duy-Nhạc vì báo thù cho chú (Trần-Chân) mà gây loạn ở kinh thành.
Theo Đăng đình-Long, tác giả Ái vô xứ Nghệ, lý-lịch của họ Mạc có những chi-tiết đặc-biệt như sau:
« Họ Mạc thuộc dòng dõi Cơ-chất-Khiết tức là con cháu họ Cơ nhà Chu làm vua bên Trung-quốc. Gặp hồi suy vong nhà Châu mất nước. Cơ-chất-Khiết về quận Trác-Lộc rồi ra làm Chấp-kích-lãng voi nhà Hán. Có quân công nên được tứ tính là họ Mạc và được cai-trị đất Trịnh-Ấp. Ngày nay ở hạt Nhâm-Khâu, phủ Hà-Giản, còn có nơi gọi là Mạc-châu, đó là chỗ phát-tích của họ Mạc. Về sau, con cháu Mạc-chất-Khiết đều hiển-đạt cả rồi dần dần di-cư về mé Nam Trung-quốc. Đến đời nhà Nam-Tống, họ Mạc ở đất Quảng-Đông rất thịnh. Rồi một chi họ Mạc ở Phiên-Ngung chuyển sang làng Lũng-Bộng, huyện Chí-linh Hải-Dương. Đến đời Mạc-Hiển-Tích mới hiển-đạt.
Mạc hiển-Tích đỗ Văn-học thủ-tuyển năm Bính-Dần, niên-hiệu Quang-Hựu triều vua Lý Nhân-Tông làm đến Thượng-thư.
Em Mạc hiển-Tích là Mạc hiển-Quan đỗ Văn học thủ tuyển niên hiệu Quang-Hựu, năm Kỷ-Tỵ, huynh đệ đồng triều, sự nghiệp vô cùng hiển hách.
Sau năm đời đến Mạc đình-Chi.
Mạc đình-Chi hiệu là Tiết-phu, người bé nhỏ, tướng mạo cực xấu nên người ta thường cho là hẩu-tinh giáng thế. Mạc đình-Chỉ thông minh rất mực, đỗ Trạng-nguyên năm Giáp-Thìn niên hiệu Hưng-Long triều vua Trần Anh-Tông, đi sứ Tàu có tài ứng đối được phong: « Lưỡng quốc Trạng-nguyên », rồi về nước làm quan đến Đại-liêu-Bang Tả-bộc-Xa, tính rất thanh-liêm, sau xin từ-chức về quê dạy học. (Nay ở xã An-Ninh còn di-chỉ nền nhà học tức là Trạng-nguyên cổ-đường. Làng Long-Động thờ làm thành-hoàng).
Con Mạc đình-Chi là Mạc Khán, Mạc Trực đều đỗ Hương-cống, giữ chức Viên-ngoại-lang dưới đời Trần dự-Tông.
Đến đời thứ tư, một chi sang đất Mạ-Khê, huyện Thanh-Hà rồi lại phân sang làng Cổ-Trai, thuộc huyện Nghi-Dương. Ở Cổ-Trai hai đời thì sinh ra Mạc đăng-Dung… »
Trong việc thay trò đổi cảnh trên sân khấu chính-trị nước ta bấy giờ, ngoài việc của Chiêu-tông bại trận bị giết, còn lại vua Cung-Hoàng, bà Thái-hậu cùng đám quan-liêu không thuận theo chiều gió mới cũng rụng lả lể như lá lì nhỉên. Những nhân-vật « tuẫn-tiết » bấy giờ có các ông Vũ công-Ngôn, Ngô Hoán, Đô ngự-sử Nguyễn Thái-Bạt, Lễ-bộ thượng-thư Đạm Thận-Huy, Tham-chính sứ Nguyễn Duy-Tường, Quan-sát sứ Nguyễn Tự-Cường, Bình-hộ bá Nghiêm Bá-Kỳ, Đô ngự-sử Lại Kim-Bảng, Hộ-bộ thượng thư Nguyễn Thiệu-Tri, Phó Đô ngự-sử Nguyễn Hữu-Nghiễm, Lễ bộ tả thị-lang Lê Vũ-Cương, hết thảy là những người có cơm đầy áo nặng với cựu triều. Theo Việt-Nam Sử-lược, những người này đã mắng chửi họ Mạc, nhổ vào mặt họ Mạc, hoặc ôm ấn nhảy xuống sông tự vẫn. Đây là một thứ phản-ứng tiêu-cực của những kẻ yếu thế hay thất thế, chớ có thể có những hành-động tuyệt-vọng mà thôi. Một số người khác như Lê công-Uyên, Nguyễn Ngã, Nguyễn Thọ-Tường đã khởi binh ở Thanh-Hóa nhưng thất bại. Sau có Lê Ý nổi quân ở đất Mã-giang… mấy lần thắng được quân Mạc nhưng cũng bị tiêu-diệt vì khinh-địch.
Sự-kiện trên đây không đáng lạ, vì sự luyến tiếc một triều-đại cũ đã gây ra sự chống đối một triều-đại mới là lẽ dĩ-nhiên và thường luôn luôn có trên lịch-sử, do mối liên-hệ về quyền lợi vật-chất hay tinh-thần, mà một phần cũng do cái đạo-nghĩa chúa tôi.
« TRUNG-THẦN BẤT SỰ NHỊ QUÂN »
« LIỆT-NỮ BẤT CANH NHỊ PHU »
Câu này thường hay được hiểu theo một ý nghĩa cố-chấp cũng có.
Nhà Mạc bắt đầu từ năm Đinh-hợi (1527), lấy niên-hiệu là Minh-Đức. Mặc dầu họ Mạc bị một số cố-thần nhà Lê không tán thành, để giữ tiết-thảo, vừa cướp xong chính-quyền Mạc Đăng-Dung đã ra công thu dụng các cựu-thần của tiền-triều, các con cháu các nhà danh gia vọng-tộc và truy-phong cả những người tuẫn-tiết.
Theo Minh-sử, Mạc Đăng-Dung vừa lên làm vua, có ban bố 59 điều luật gồm trong tân chính-sách để áp-dụng cấp-thời về việc trị nước. Rất tiếc sử ta cũng như sử Tàu không nói rõ 59 điều của họ Mạc ra sao.
Chúng nghĩ rằng ngoài những điều luật của họ Mạc đưa ra không…









































