Lịch Sử Hoa Kỳ

Vây hãm Charleston – Trận thua lớn của Cách mạng Mỹ

Cuộc vây hãm Charleston (từ 29 tháng 3 đến 12 tháng 5 năm 1780) là một sự kiện lớn trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ (1775-1783). Muốn đánh chiếm miền Nam nước Mỹ, Tổng tư lệnh quân Anh, Sir Henry Clinton, đã phát động tấn công Charleston, Nam Carolina. Sau sáu tuần bao vây, thành…

Kim Lưu
tổng hợp và biên dịch từ World History
vây hãm chaleston
0 views

Cuộc vây hãm Charleston (từ 29 tháng 3 đến 12 tháng 5 năm 1780) là một sự kiện lớn trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ (1775-1783). Muốn đánh chiếm miền Nam nước Mỹ, Tổng tư lệnh quân Anh, Sir Henry Clinton, đã phát động tấn công Charleston, Nam Carolina. Sau sáu tuần bao vây, thành phố thất thủ. Đây được xem là một trong những trận thua đau đớn nhất của quân Mỹ trong suốt cuộc chiến.

Tình hình trước cuộc vây hãm Charleston

Trong ba năm đầu của cuộc chiến tranh giành Độc lập Mỹ, người Anh tập trung chiến lược ở phía bắc, với phần lớn chiến sự diễn ra ở các thuộc địa New England và vùng Trung Đại Tây Dương. Tuy nhiên, sau khi một số chiến dịch quân sự ở phía bắc thất bại, người Anh chuyển hướng sang miền Nam nước Mỹ. Miền Nam được cho là có đông đảo người trung thành với Hoàng gia Anh, chỉ chờ quân đội Anh đến để nổi dậy hàng loạt và lật đổ chính quyền cách mạng. Ngoài ra, miền Nam sản xuất hầu hết các loại cây trồng sinh lợi của Hoa Kỳ, bao gồm chàm, gạo và thuốc lá – những nguồn thu mà người Mỹ sử dụng để mua sắm vật tư chiến tranh. Do đó, nếu miền Nam rơi vào tay người Anh, người Mỹ sẽ khó có thể có đủ tài chính để duy trì cuộc chiến.

Ngài Henry Clinton, tổng tư lệnh quân đội Anh ở Bắc Mỹ, quyết định thăm dò hệ thống phòng thủ của Mỹ ở phía nam trước khi tiến hành một cuộc xâm lược toàn diện. Vào tháng 11 năm 1778, ông phái một lực lượng viễn chinh nhỏ gồm 3.500 lính đến đánh chiếm Savannah, Georgia. Vào ngày 29 tháng 12, sau một cuộc giao tranh ngắn với quân Mỹ, người Anh đã chiếm được Savannah, củng cố vị thế ở phía nam bằng cách chiếm đóng các thị trấn xung quanh. Nhưng sự kiểm soát của Anh ở Georgia nhanh chóng bị thách thức. Thiếu tướng Benjamin Lincoln, chỉ huy Binh đoàn miền Nam của Lục quân Lục địa, quyết tâm ngăn chặn Georgia rơi trở lại ách thống trị của người Anh. Sau khi hợp lực với 4.000 quân Pháp dưới quyền Charles Henri Hector, Bá tước d’Estaing, Lincoln bao vây Savannah vào ngày 16 tháng 9 năm 1779. Tuy nhiên, cuộc vây hãm kéo dài hơn dự đoán, khiến d’Estaing lo ngại rằng hạm đội của mình dễ bị quân Anh tấn công. Trở nên thiếu kiên nhẫn, vị đô đốc Pháp ra lệnh tấn công trực diện. Tuy nhiên, cuộc tấn công của liên quân Pháp-Mỹ vào Savannah, diễn ra vào ngày 9 tháng 10 năm 1779, đã bị đẩy lùi đẫm máu. Cảm thấy nhụt chí, lực lượng đồng minh bỏ dở chiến dịch vây hãm Savannah ngay sau đó, để Georgia trong tay người Anh.

Khi Clinton nghe tin tức Anh chiến thắng tại Savannah, ông vui mừng khôn xiết, gọi đó là “sự kiện vĩ đại nhất xảy ra trong toàn bộ cuộc chiến”. Sau thành công ở Savannah, Clinton ngay lập tức chuyển sự chú ý của mình sang một mục tiêu lớn hơn: Charleston, Nam Carolina. Với dân số 12.000 người, Charleston là một trong bốn thành phố quan trọng nhất trong vùng Bắc Mỹ thuộc Anh (ba thành phố còn lại là New York, Boston và Philadelphia). Đây là thành phố lớn nhất ở phía nam, bến cảng nhộn nhịp với trọng trách là trung tâm của cải trong khu vực. Bản thân Clinton đã từng cố gắng chiếm thành phố này ba năm trước nhưng đã thất bại trong Trận chiến đảo Sullivan (28 tháng 6 năm 1776); ông không thể để thành phố này đánh bại ông lần thứ hai. Ngày 26 tháng 12 năm 1779, Clinton giao quyền chỉ huy lực lượng chiếm đóng New York cho tướng người Đức Wilhelm von Knyphausen với 10.000 quân. Clinton, phó chỉ huy của ông là Lord Charles Cornwallis, và 8.500 lính Anh và Đức còn lại đã lên một hạm đội gồm 90 tàu vận tải đang đợi ở Cảng New York. Được hộ tống bởi 14 tàu chiến của Hải quân Hoàng gia dưới quyền Phó đô đốc Marriot Arbuthnot, các tàu vận tải đã nhổ neo và ra khơi hướng tới Charleston.

Hành Trình Đầy Gian Khổ

Chuyến hải hành đến vùng đất mới là một trải nghiệm vô cùng khắc nghiệt. Một sĩ quan người Đức, Johann Hinrichs thuộc Binh đoàn Jaeger, đã ghi chép lại rằng mỗi ngày đều mang theo thời tiết lạnh lẽo, khổ sở, thường xuyên theo một kịch bản quen thuộc: “bão táp, mưa rào, mưa đá, tuyết rơi, và những con sóng dữ đập vào cả khoang tàu” (trích dẫn trong Middlekauff, 444). Những cơn gió mùa đông thấu xương tạo nên những con sóng cao cuồn cuộn, làm chao đảo dữ dội những con tàu, nước tràn ngập cả boong. Một con tàu vận tải tên là Anna đã bị cuốn ra giữa Đại Tây Dương, mang theo 200 lính bộ binh Đức. Một con tàu khác, George, thì bị đắm; phần lớn binh lính trên tàu được cứu sống, nhưng rất nhiều thiết bị chiến tranh quý giá, bao gồm phần lớn ngựa của tàu vận tải, đã bị kéo xuống đáy biển.

Cuối tháng 1 năm 1780, hành trình đáng sợ cũng kết thúc khi các tàu Anh cập bến Đảo Tybee, gần cửa sông Savannah để tập hợp lại lực lượng. Clinton đợi các con tàu chậm chân bắt kịp trước khi cho đoàn chiến thuyền đi về phía bắc, men theo bờ biển cho đến khi họ đến Cửa biển Edisto của Nam Carolina vào ngày 11 tháng 2.

DỰ ĐOÁN ANH SẼ ĐÁNH VÀO TỪ PHÍA, TƯỚNG LINCOLD VỘI VÃ CHO TRÙNG TU CÁC PHÁO ĐÀI.

Sau một số tranh cãi nảy lửa với Đô đốc Arbuthnot về nơi đổ bộ – Clinton, dù là một nhà chiến lược tài ba, nhưng lại luôn hoang tưởng rằng các đồng cấp của mình luôn tìm cách hạ bệ ông, dẫn đến việc thường xuyên bất hòa với mọi người – vị tổng chỉ huy này quyết định đưa quân đổ bộ lên Đảo Simmons (Đảo Seabrook ngày nay), nằm cách Charleston khoảng 30 dặm về phía nam. Clinton chọn chờ đợi ở đây trong lúc quân tiếp viện đến từ Georgia và New York, nâng quân số của ông lên khoảng 10.000 người. Ông cũng xây dựng các kho tiếp tế và hầm chứa thuốc súng ở các khu vực xung quanh, đồng thời yêu cầu các tiền đồn quân sự của Anh ở Florida và Bahamas chuyển bất kỳ khẩu pháo nào dư thừa đến vùng đất Carolina.

Charleston Đối Mặt Cuộc Viễn Chinh Của Anh

Quân Mỹ nhanh chóng phát hiện ra đoàn thám hiểm khổng lồ của Anh đang tập hợp trên Đảo Simmons và ngay lập tức đoán được mục tiêu của họ. Tướng Lincoln đã gấp rút tìm cách bảo vệ thành phố Charleston. Quân đội của ông không hùng hậu; ông có khoảng 1.200 quân chính quy từ Virginia và Nam Carolina, khoảng 2.000 dân quân Nam Carolina và 380 người từ Binh đoàn Pulaski. Một hạm đội nhỏ của Hải quân Lục địa, do Thiếu tướng Hải quân Abraham Whipple chỉ huy, đóng tại cảng. Whipple có tám tàu, một số trong số đó đã được mua từ Pháp. Cửa ngõ vào Cảng Charleston được bảo vệ bởi Pháo đài Moultrie ở phía đông và Pháo đài Johnson ở phía tây, mặc dù cả hai pháo đài đều đã xuống cấp nghiêm trọng. Lincoln đoán trước rằng cuộc tấn công chính của người Anh sẽ đến từ hướng biển và nhanh chóng cử người đến sửa chữa các pháo đài. Cảng cũng được bảo vệ bởi một cồn cát mà ông hy vọng sẽ ngăn chặn bất kỳ tàu chiến hạng nặng nào đi qua.

Hệ thống phòng thủ thành phố Charleston năm 1780 Tác giả Không xác định (Phạm vi công cộng)

Vì Lincoln dự đoán người Anh sẽ tấn công qua cảng, ông đã bỏ bê việc phòng thủ phía đất liền của Charleston. Trái tim của tuyến phòng thủ trên bộ là một thành trì 18 khẩu súng được xây dựng bằng “tappy”, một loại vật liệu làm từ vỏ hàu, vôi, cát và nước. Thành trì có các pháo đài được bố trí ở hai bên, nhưng những công trình này vẫn chưa hoàn thành. Bán đảo nơi Charleston tọa lạc nằm ở hợp lưu giữa sông Ashley và sông Cooper; sáu pháo đài nhỏ được đặt dọc theo sông Ashley, canh giữ các đường bộ đến thành phố và bảy pháo đài nằm dọc theo sông Cooper.

Hải quân Anh áp sát Charleston – Bắt đầu vây hãm

Vào ngày 20 tháng 3 năm 1780, hạm đội hùng hậu của Đô đốc Arbuthnot xuất hiện ngoài khơi cảng Charleston. Dù nổi tiếng là người thận trọng, ông ta vẫn tìm cách đưa được sáu chiến hạm nhỏ vượt qua đê cát và tiến vào cảng. Trước động thái bất ngờ này, Chuẩn Đô đốc Whipple của quân Mỹ đành bỏ ý định tấn công. Ông cho tàu của mình tiến vào cửa sông Cooper rồi đánh chìm ngay tại đó, dùng xác tàu làm chướng ngại vật. Thủy thủ đoàn của ông được điều vào thành Charleston để tăng cường hỏa lực. Đến ngày 8 tháng 4, Arbuthnot đưa toàn bộ 14 chiến hạm của mình vượt qua đê cát an toàn, ngang nhiên lướt qua mấy khẩu đại bác vô dụng ở Pháo đài Moultrie.

Trong khi đó, Tướng Clinton đã cho đổ bộ quân tại Drayton’s Landing – bờ biển Nam Carolina, cách Charleston 12 dặm về phía thượng nguồn. Ngày 29 tháng 3, quân của Clinton vượt sông Ashley và vào ngày 1 tháng 4, họ áp sát tới 800 thước (*) so với tuyến phòng thủ mặt đất của Charleston. Lúc này Lincoln đã bị bao vây hoàn toàn, chặn kín cả đường bộ lẫn đường biển. Phía đất liền, quân Anh bắt đầu đào chiến hào, giăng ra một loạt công sự kiên cố đối mặt trực tiếp với tuyến phòng thủ của quân Mỹ. Đất cát ở bán đảo Charleston giúp quân Anh đào chiến hào rất nhanh nhẹn, và chưa đầy mười ngày, chiến tuyến thứ nhất đã hoàn thành. Clinton và Arbuthnot yêu cầu Lincoln đầu hàng, nhưng vị tướng người Mỹ từ chối, buộc họ phải tiếp tục xây dựng chiến tuyến thứ hai, thậm chí còn tiến sát hơn đến phòng tuyến Mỹ.

Trách nhiệm đào chiến hào thuộc về Thiếu tá James Moncrieff, kỹ sư trưởng của quân Anh. Ông tổ chức quân lính thành các đội lên đến 500 người thay phiên nhau làm việc. Một trong những sáng kiến của Moncrieff là việc sử dụng hàng rào mantelet – những khung gỗ nặng cao ba mét, dài bốn mét có ba chân chống. Mười sáu hàng rào này được ghép lại để dựng thành tường công sự, phía ngoài chất thêm cát hoặc đất. Công việc này không hề dễ chịu: cái nóng khủng khiếp ở Nam Carolina cộng thêm những con bọ cát cắn vào mắt cá chân, cánh tay và mặt của họ.

Nhưng những vất vả đó chẳng đáng kể gì khi chiến hào của quân Anh lọt vào tầm pháo binh của Mỹ. Thỉnh thoảng, đại bác Mỹ lại rền vang, quân Anh và Đức phải co rúm người lại khi đất đá xung quanh bị xới tung bởi hỏa lực. Địa hình bằng phẳng của bán đảo biến quân Anh thành mục tiêu dễ dàng cho các pháo thủ Mỹ. Nhưng do thiếu đạn dược, người Mỹ phải bắn những hộp đựng lỉnh kỉnh đủ thứ thay vì đạn đại bác thông thường: xẻng, cuốc chim, rìu, bàn là, thậm chí là cả mảnh thủy tinh vỡ. Vết thương do những hộp đạn này gây ra vô cùng khủng khiếp, chân tay bị xé toạc, xương vỡ vụn. Phía Anh cũng bắn trả bằng hộp đạn của riêng họ, mỗi hộp chứa tới 100 viên đạn chì.

Charleston: Cái bẫy sập xuống

Khi chiến hào của quân Anh ngày một tiến sát Charleston, tướng Clinton lo ngại rằng quân Mỹ vẫn có đường thoát qua sông Cooper. Ngày 14 tháng 4, ông cử Đại tá Banastre Tarleton cùng một đơn vị trung thành tinh nhuệ có tên British Legion đi đánh chiếm Monck’s Corner, một trong những cửa ải chính trên sông Cooper. Tarleton đánh úp lính Mỹ canh gác Monck’s Corner và truy đuổi họ sau một cuộc giao tranh ngắn ngủi. Đến cuối ngày hôm sau, mọi đường vượt sông Cooper quan trọng trong vòng sáu dặm từ Charleston đều đã nằm gọn trong tay quân Anh. Quân Mỹ trong thành phố cuối cùng cũng mắc kẹt hoàn toàn.

Ngày 19 tháng 4, quân Anh hoàn thành chiến hào thứ hai song song với thành phố và bắt tay vào đào chiến hào thứ ba. Lúc này, họ chỉ còn cách tường thành Charleston khoảng 250 thước Anh (khoảng 228 mét). Tướng Lincoln, nhận thấy hồi kết đang đến gần, bèn triệu tập hội đồng chiến tranh và đề nghị đầu hàng. Phó Thống đốc Christopher Gadsden, dù là dân sự nhưng vẫn tham dự hội đồng, phản đối kịch liệt và mắng Lincoln thậm tệ vì dám nghĩ đến chuyện bỏ rơi Charleston. Ngày hôm sau, Gadsden cùng với một nhóm lãnh đạo dân sự khác quay trở lại trụ sở của Lincoln, tha thiết cầu xin ông đừng bỏ mặc họ cho người Anh. Miễn cưỡng thay đổi ý định, vị tướng đành tiếp tục cuộc vây hãm.

Rạng sáng ngày 24 tháng 4, 200 quân nhân từ Virginia và Carolina tổ chức một cuộc đột kích vào đội hình quân Anh đang đào chiến hào thứ ba. Bị bất ngờ, quân Anh bỏ chạy về chiến hào thứ hai. Cuộc tấn công khiến phía Anh tổn thất 50 người chết hoặc bị thương, thêm 12 người bị bắt làm tù binh. Cuộc tấn công bất ngờ này khiến quân Anh hoang mang. Đêm hôm sau, việc đào chiến hào thứ ba lại bị gián đoạn khi tiếng động đột ngột khiến lính vây hãm tưởng quân Mỹ sắp đánh thọc ra, hoảng loạn bỏ vị trí. Chỉ khi biết chắc không có cuộc tấn công nào thì họ mới lại quay trở lại công việc.

Charleston chìm trong biển lửa

Đến đầu tháng Năm, lính công binh Anh đã đào chiến hào sát ngay chân thành lũy của quân Mỹ. Pháo binh hai bên nã vào nhau dữ dội, chẳng mấy chốc, cả bán đảo biến thành một địa ngục trần gian, đầy hố bom và xác chết vương vãi. Ngày 9 tháng Năm, pháo quân Anh áp sát, bắn thẳng vào những ngôi nhà gỗ ở Charleston, thiêu rụi từng dãy phố. Một sĩ quan Anh ám ảnh kể lại tiếng la hét kinh hoàng của phụ nữ và trẻ em mỗi khi đại bác Anh khai hỏa (Fleming, 111). Một nhóm sĩ quan Anh vỗ tay reo hò khi Charleston bốc cháy, nhưng ngay lập tức bị Clinton quở trách, rằng thật “vô lý, bất lịch sự và vô nhân đạo khi đốt một thành phố mà các anh sắp chiếm đóng” (Middlekauff, 450).

Ngày 11 tháng Năm, Gadsden cùng với các chức sắc Charleston khác thuyết phục Lincoln đầu hàng nhằm tránh thêm đổ máu. Lincoln gặp gỡ Clinton để đàm phán, đề nghị quân đội Mỹ được rút khỏi thành phố và gìn giữ danh dự quân nhân. Clinton thẳng thừng từ chối, tuyên bố ông chỉ chấp nhận đầu hàng vô điều kiện. Lincoln đành chấp nhận và lúc 11 giờ sáng ngày 12 tháng Năm 1780, binh sĩ Mỹ xếp hàng ra khỏi thành phố, trở thành tù binh của Anh. Các sĩ quan Mỹ ban đầu được giữ kiếm, nhưng sau khi vài người hô vang “Đại hội muôn năm!”, Clinton tức giận tước đi vinh dự này. Dân quân của thành phố thì được phép về nhà, chịu quản chế. Tổng cộng, người Anh báo cáo đã bắt giữ được 7 vị tướng Mỹ, 5.466 sĩ quan và binh lính (trong đó nhiều người quá già hoặc bị thương nên không tham chiến), 5.316 khẩu súng, 15 cờ hiệu, và khoảng 33.000 viên đạn. Đây là lực lượng Mỹ đầu hàng lớn nhất cho đến Trận Harper’s Ferry năm 1862.

Bộ binh Lục quân Lục địa (Continental Army), khoảng 1779-1783 Henry Alexander Ogden, IV (Phạm vi công cộng)

Ba ngày sau khi Lincoln đầu hàng, một khẩu súng đã cướp cò trong nhà kho chứa đầy thùng thuốc súng. Khẩu súng khai hỏa gây ra một vụ nổ kinh hoàng. Sáu tòa nhà gần đó, bao gồm một nhà thổ và một trại tế bần, bốc cháy, gây ra hỗn loạn kéo dài nhiều giờ. Khi ngọn lửa được dập tắt, khoảng 200 người chết, bị thiêu bởi vụ nổ ban đầu hoặc trong đám cháy, bao gồm cả binh lính và dân thường, bên Anh, Mỹ và cả lính đánh thuê Đức. Một sĩ quan Đức mô tả cảnh tượng rùng rợn: những người bị bỏng nặng “quằn quại như giun trên mặt đất”, một số cơ thể “cháy sém đến mức không phân biệt được hình dạng” (trích trong Middlekauff, 212). Đương nhiên, quân Anh đổ lỗi cho một phần tử phá hoại người Mỹ, trong khi phía Mỹ kết tội người Anh quản lý cẩu thả. Dù ai là thủ phạm, vụ nổ kho thuốc súng là cái kết kinh hoàng cho một cuộc vây hãm ác liệt.

Thương vong

Trận vây hãm Charleston chắc chắn là một trong những chiến thắng quan trọng nhất của người Anh trong cuộc chiến; Clinton đã chiếm được thành phố quan trọng nhất ở miền Nam nước Mỹ và buộc toàn bộ quân đội Yêu nước phải đầu hàng. Ngoài những thiệt hại do vụ nổ kho đạn, quân Mỹ thiệt mạng khoảng 90 người và 140 người bị thương trong suốt cuộc bao vây. Ngược lại, quân Anh và Đức chỉ mất khoảng 76 người và 189 người bị thương. Thêm vào đó là những tổn thất chưa xác định về thường dân và các tù binh chiến tranh Mỹ sau này đã chết vì điều kiện tồi tệ trong các nhà tù của Anh, tổng số người chết chắc chắn còn cao hơn nhiều.

Clinton ở lại Charleston đủ lâu để đưa ra lời tuyên bố ân xá cho bất kỳ ai nổi dậy thề trung thành với nhà vua. Sau đó, vào ngày 5 tháng 6, ông đưa 4.000 quân trở lại thành phố New York, tin rằng quân đội của ông cần có mặt ở đó để phòng thủ trước một cuộc tấn công tiềm tàng của Pháp – Mỹ. Phó tư lệnh, Lord Cornwallis, được giao chỉ huy quân đội phía Nam, với mệnh lệnh hoàn thành việc khuất phục vùng Carolinas. Sau khi mất quân đội của Lincoln, những người Yêu nước miền Nam vội vàng tập hợp một đội quân khác để chống lại Cornwallis, nhưng lực lượng này cũng đã thất bại trong Trận Camden (16 tháng 8 năm 1780).

Rate this post
Kim Lưu
Chào mọi người, mình là Kim Lưu, người lập Blog Lịch Sử này. Hy vọng blog cung cấp cho các bạn nhiều kiến thức hữu ích và thú vị.

BÀI LIÊN QUAN